Chào Mừng Bạn Đến Với Website Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Quảng Trị !

Tài liệu tham khảo

Anh Văn

Môn Văn

Môn Hóa

Môn Toán

Kế Hoạch Hoạt Động

Danh ngôn - Tục ngữ

Website các sở Giáo dục

Liên kết

Hỗ trợ trực tuyến

Hỗ trợ Online

Trang nhất » Lịch sử giáo dục Quảng Trị

GIÁO DỤC QUẢNG TRỊ - 10 NĂM LẬP LẠI TỈNH
Ngày tạo: 23/01/2011   Lượt xem: 4420

Thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, nhân loại đang chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI, Đảng cộng sản Việt Nam với 2 kỳ Đại hội VI (12/1986) và Đại hội VII (6/1991) đã đề ra cương lĩnh mới xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội;

  chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Đường lối đổi mới của Đảng chuyển từ chế độ bao cấp sang cơ chế thị trường nhiều thành phần kinh tế (sở hữu), mở cửa, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với nét đặc trưng của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là "làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" (1).

 Công cuộc đổi mới được triển khai mạnh mẽ với nhiều quyết sách quan trọng, trong đó có việc chia tách một số tỉnh để phù hợp với dân cư và địa giới hành chính. Nghị quyết 86/NQ.BCT ngày 14/4/1989 của Bộ Chính trị và nghị quyết tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa VIII có quyết đinh chia tách một số tỉnh; ngày 30/6/1989, Quộc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định chia tách tỉnh Bình-Trị-Thiên thành 3 tỉnh :  Tỉnh Quảng Bình, Tỉnh Quảng Trị và Tỉnh Thừa Thiên-Huế.
 Từ đây lịch sử chuyển sang trang mới với biết bao khó khăn thử thách nhưng đồng thời cũng là cơ hội mới, vận hội mới ở mảnh đất nhỏ hẹp miền Trung đã từng trãi qua những bước thăng trầm quặn đau và oanh liệt. Trong xu thế chung đó, Giáo dục - Đào tạo Quảng Trị đã có những thành tựu quan trọng sau hơn 10 năm lập lại tỉnh.

---------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII NXB Chính trị quốc gia - trang 80

 Trở về tên gọi của mình, tỉnh Quảng Trị đối mặt với một thực trạng nghèo nàn và lạc hậu, cơ sở vật chất 4 huyện thị nông thôn thuộc vùng sâu, vùng xa của tỉnh Bình  Trị Thiên chưa bước qua khỏi hậu quả của chiến tranh nặng nề, nhà cửa mới được dựng che tạm bợ, đời sống đói kém khó khăn.
 Ban đầu trụ sở của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh phải dựa vào trụ sở của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của Thị xã Đông Hà để làm việc. Để tạo điều kiện cho Sở Giáo dục Quảng Trị làm việc ngay từ ngày đầu lập lại tỉnh  Phòng giáo dục Đông Hà  đã nhường trụ sở làm việc của Phòng cho cơ quan Văn phòng Sở. Mấy ngôi nhà cấp 4 xuống cấp trầm trọng với một khuôn viên chật hẹp, nhưng "thước đất cắm dùi" đầu tiên này là cực kỳ quan trọng trong việc vạch định hướng đi cho phát triển giáo dục ở tầm lịch sử là đơn vị hành chính cấp tỉnh. 15 cán bộ và chuyên viên quê Quảng Trị công tác ở Sở Giáo dục Bình Trị Thiên cùng với 5 cán bộ được điều động từ cơ sở lên là con số biên chế đầu tiên của Sở Giáo dục Quảng Trị do đồng chí Trương Sỹ Tiến nguyên là Phó Giám đốc Sở Giáo dục Bình Trị Thiên làm triệu tập viên. Đồng chí Nguyễn Đức Hân nguyên Giám đốc Sở Giáo dục Bình Trị Thiên giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh.
 Ngày 01/7/1989, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị Nguyễn Bường ký quyết định số 01/QĐ-UB thành lập Sở Giáo dục Quảng Trị. Đồng chí Trương Sỹ Tiến giữ chức vụ Giám đốc Sở, đồng chí Nguyễn Thị Đảm làm kế toán trưởng. Ngày 02/9/1989 bổ sung đồng chí Hồ Sỹ Nguyên giữ chức Phó giám đốc Sở;
 Những ngày của tháng 7 năm 1989 là những ngày đáng nhớ nhất trong giai đoạn lịch sử này.Những cán bộ, chuyên viên Sở Giáo dục Quảng Trị với tình cảm yêu thương được trở lại quê hương, với niềm phấn chấn quyết tâm xây dựng quê hương nhanh chóng đổi thay đã không quản gian lao, thiếu thốn, làm việc không quản ngày đêm. Hầu hết anh chị em cán bộ đều ở tập thể tại trụ sở Phòng giáo dục thị xã Đông Hà nhường lại. Cuộc sông và công việc tuy gian khổ nhưng chan hòa tình nghĩa. Tính cộng đồng, tính hợp tác, tinh thần trách nhiệm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ là nét nổi bật của đội ngũ cán bộ Văn phòng Sở Giáo dục Quảng Trị lúc bấy giờ.
 Tuy số người thời kỳ đầu còn ít, nhưng vẫn biên chế thành 5 phòng chức năng :
• Phòng chuyên môn (gồm cấp I, cấp II,  cấp III và BTVH) có các đồng chí Lê Phước Long (nguyên Trưởng phòng Phổ thông Sở Giáo dục Bình Trị Thiên), Nguyễn Dư Ba, Nguyễn Hữu Toàn, Trần Xuân Phát và Nguyễn Văn Hùng. Đồng chí Lê Phước Long giữ chức Trưởng phòng.
• Phòng Tổng hợp có các đồng chí: Trương Đình Sỹ, Hoàng Đức Ngọc, Đặng Kiện, Nguyễn Viết Trai. Đồng chí Trương Đình Sỹ giữ chức Trưởng phòng.
• Phòng Đào tạo-Bồi dưỡng có đồng chí Tạ Quang Hưng, Đào Văn Diệp, Nguyễn Đức Đông. Đồng chí Tạ Quang Hưng giữ chức Trưởng phòng.
• Phòng Mầm non có đồng chí Lê Thị Hải Vân (nguyên Phó trưởng phòng Mầm non Sở Giáo dục Bình Trị Thiên) , Nguyễn Thị Bích Liễu và Lê Thị Vĩnh Nam. Đồng chí Lê Thị Hải Vân giữ chức trưởng phòng.
• Phòng Hành chính có đồng chí Trần Quang Việt (nguyên Trưởng phòng Giáo dục chuyên nghiệp Sở Giáo dục Bình Trị Thiên), Đoàn Duy Cản, Hoàng Đức Ninh và Nguyễn Thị Lý. Đồng chí Trần Quang Việt Trưởng phòng.
• Công đoàn giáo dục Quảng Trị do đồng chí Nguyễn Hữu Ái (Hiệu trưởng trường PTTH Tân Lâm) làm triệu tập viên.
• Bên cạnh các phòng chức năng trên đây, Văn phòng Sở còn có Công ty Sách - Thiết bị trường học do đồng chí nguyễn Hữu Tiễn làm Giám đốc Công ty. Một mô hình vừa kinh doanh vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị của ngành bằng việc cung ứng sách và thiết bị cho các ngành học. Lúc đầu có 3 cán bộ tách ra từ Công ty Sách-Thiết bị Bình Trị Thiên gồm các đồng chí: Nguyễn Hữu Tiễn (Giám đốc), Lê Công Tước, Nguyễn Thị Hà.
Sở Giáo dục Quảng Trị buổi đầu tiên ít người, nhiều việc, các phòng chức năng phát huy tinh thần cộng đồng trách nhiệm trước công việc mà xây dựng nên. Hướng trước mắt là ổn định tình hình một cách nhanh chóng và đưa ra các giải pháp mạnh "tự vượt lên chính mình". Vừa làm vừa tự đánh giá so sánh một cách khách quan giữa cái đã đạt được và chưa đạt được, vừa tự điều chỉnh phù hợp với yêu cầu chung của thời kỳ đổi mới. Chính vì vậy mà cơ quan Văn phòng Sở không ngừng được tăng cường và lớn mạnh. Đến năm học 2000-2001 Văn phòng Sở có các phòng chức năng sau đây: Phòng Mầm non, Phòng Tiểu học, Phòng Trung học phổ thông, Phòng Giáo dục thường xuyên, Phòng Giáo dục chuyên nghiệp, Phòng Kế hoạch - Tài vụ, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Tổng hợp - Hành chính và Thanh tra giáo dục, cùng với việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý Ngành, tổ chức Đảng và đoàn thể cũng được hình thành. Ban cán sự Đảng gồm có các đồng chí Trương Sỹ Tiến, Hồ Sỹ Nguyên, Lê Phước Long, Trương Đình Sỹ, Trần Quang Việt. Đồng chí Trương Sỹ Tiến giữ chức Bí thư Ban cán sự Đảng. Ban cán sự Đảng là một tổ chức của Đảng giúp Thường vụ tỉnh ủy hoạch định các chủ trương và giải pháp lớn như tổ chức bộ máy, công tác tư tưởng chính trị, công tác tổ chức cán bộ, phát triển Đảng trong ngành. Về sau Ban cán sự Đảng được bổ sung thêm đồng chí Nguyễn Văn Hùng và đồng chí Nguyễn Tài Lương. Đảng ủy cơ quan gồm có 7 đồng chí nhiệm kỳ đầu do đồng chí Hồ Sỹ Nguyên làm Bí thư . Công đoàn giáo dục là đơn vị đồng cấp do đồng chí Nguyễn Tài Lương làm Chủ tịch.
 Trong 10 năm lập lại tỉnh lãnh đạo Sở có sự thay đổi là đầu năm 1995 đồng chí Trương Sỹ Tiến lên giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng chí Hồ Sỹ Nguyên giữ chức Giám đốc Sở, đồng chí Lê Phước Long giữ chức Phó giám đốc Sở. Năm 1996 bổ sung đồng chí Nguyễn Văn Hùng giữ chức Phó giám đốc. Tháng 4/2000, đồng chí Hồ Sỹ Nguyên nghỉ hưu, đồng chí Lê Phước Long giữ chức Giám đốc Sở. Đầu năm 2002, đồng chí Lê Thị Hải Vân được đề bạt Phó Giám đốc Sở.
 Biên chế Văn phòng Sở số lượng là 53 cán bộ và chuyên viên có năng lực, am  hiểu thực tiễn đã có những đóng góp quan trọng trong việc thực hiện công cuộc cách mạng về Giáo dục - Đào tạo ở địa phương. Thời kỳ này là thời kỳ phát triển giáo dục theo đường lối đổi mới tư duy giáo dục. Mườiì năm ổn định  và phát triển giáo dục ở Quảng Trị cũng như chung cả nước có một thuận lợi cơ bản, to lớn là Đảng ta đã chỉ rõ và khẳng định một cách khoa học về mục tiêu giáo dục là "Hình thành và phát triển toàn diện nhân cách, đào tạo con người có lòng yêu nước và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tiếp thu truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa loài người, có sức khỏe, có phẩm chất và kỹ năng để làm tốt một nghề. Phải làm cho học sinh thực sự là chủ thể của hoạt động học tập, học sinh cùng với giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy - học" (1). Chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục theo đường lối đổi mới tư duy của Đảng, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm học 1989-1990 (Nha Trang, tháng 7/1989) với 10 tư tưởng lớn là:
- Giáo dục  là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, nhà trường là công cụ chuyên chính vô sản.
- Phát triển giáo dục phải phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương.
- Chất lượng và hiệu quả phải đảm bảo trước mắt và lâu dài nhưng cần thiết phải biết đón đầu đi trước.
- Tiến hành Phổ cập giáo dục - Chống mù chữ mạnh mẽ theo chuẩn mực quốc gia, chú ý tới đại trà và mũi nhọn.
- Giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục đạo đức trong trường học.
---------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Phạm Minh Hạc - Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI. NXB Chính trị quốc gia. Trang 77.

- Thầy ra thầy, dạy ra dạy, trường ra trường, lớp ra lớp.
- Củng cố và mở rộng các Trường trung học sư phạm, Cao đẳng sư phạm, Dạy nghề và Đại học.
- Tăng cường nghiên cứu khoa học giáo dục, đẩy mạnh và áp dụng khoa học kỹ thuật vào trường học, giáo dục gắn liền với thực tiễn.
- Đổi mới quản lý giáo dục.
Thực hiện mục tiêu này, 10 năm ổn định và phát triển giáo dục ở Quảng trị đã thực hiện các nội dung và giải pháp lớn là:
- Tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu đổi mới.
- Xác định vị trí giáo dục trong sự nghiệp cách mạng ở địa phương, là bộ phận trọng yếu trong chương trình kinh tế - xã hội.
- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng do đó phải tiến hành xã hội hóa giáo dục rộng rãi.
- Lấy chất lượng và hiệu quả làm thước đo hành động, đồng thời phải biết đón đầu đi trước về  học sinh giỏi, Tin học, Dạy nghề...
- Dù là một tỉnh nghèo nhưng kiên quyết thực hiện đa dạng hóa loại hình trường lớp, tạo cơ hội cho người học, thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học - Chống mù chữ và Phổ cập Trung học cơ sở.

- Đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường công tác Đảng xây dựng một đội ngũ vừa "hồng" vừa "chuyên".
 Đánh giá tổng quát theo chỉ số phát triển HDI do UNDP đề xuất (1) thì chỉ số phát triển giáo dục ở Quảng Trị đạt 0,83 xếp thứ hạng 30 trên 61 tỉnh thành trong cả nước. Chỉ số phát triển giáo dục của Hà Nội là 0,95, thành phố Hồ Chí Minh là 0,94, Quảng Ngãi là 0,83, Quảng Bình là 0,85, Thừa Thiên-Huế là 0,81...
----------------------------------------------------------------------------------------
(2) Chỉ số phát triển giáo dục tính theo công thức   (G là chỉ số phát triển giáo dục, a là tỷ lệ % người đi học đúng độ tuổi, b là tỷ lệ % người lớn biết chữ.
Chỉ số phát triển giáo dục quốc tế là sự đánh giá mặt bằng dân trí ở một dịa phương, một quốc gia giúp nhà quản lý giáo dục thấy rõ hướng phát triển giáo dục, tình trạng giáo dục. Vấn đề phổ cập giáo dục đúng độ tuổi cũng như quy hoạch xây dựng phát triển đa dạng hóa các loaüi hình trường lớp tạo ra cơ hội học tập, xây dựng một xã hội học tập...
 Từ ngày tỉnh được lập lại đến nay quá trình xây dựng và phát triển Giáo dục Quảng Trị là một cuộc bứt phá quyết liệt vượt lên chính mình và đã thu được  kết quả to lớn. Qui mô các bậc học, ngành học tăng mạnh, hệ thống gíáo dục tương đối hoàn chỉnh với đủ 4 ngành học. Mạng lưới trường lớp được sắp xếp phù hợp với qui mô vùng miền (2 thị xã 5 huyện thị đồng bằng và 2 huyện miền núi).

 Về ngành học Mầm non có 134 trường, 7 trường tư thục với 1581 giáo viên. Trong đó. Nhà trẻ huy động được 3.668 cháu, đạt tỷ lệ 14,9% so với độ tuổi, tăng 3,8% so với trước. Mẫu giáo huy động được 24.563 cháu, đạt tỷ lệ 62,9%, tăng 3,5% so với trước. Riêng trẻ 5 tuổi năm học 2000-2001 là 13.891 cháu, đạt tỷ lệ 96,9%. Một ngành học khó nhưng 10 năm lập lại tỉnh đã thực thi nhiều giải pháp sáng tạo phù hợp với chuyển đổi cơ chế kinh tế thị trường. Phát triển mạnh vùng thành thị và đồng bằng nhưng hết sức chú ý phát triển ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô sinh sống. Phát triển số lượng và coi trọng chất lượng nuôi - dạy bằng việc triển khai thực hiện các chuyên đề như: Vệ, dinh dưỡng, Môi trường, Tạo hình, Âm nhạc, làm quen Chữ cái và làm quen với Toán... thực hiện chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý trường học, chuẩn hóa trình độ đào tạo của giáo viên. Tập trung sức xây dựng hệ thống trường trọng điểm chất lượng - trường chuẩn để tạo mô hình chỉ đạo đại trà vừa là cơ sở để bồi dưỡng giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ. Từ trường điểm Sao Mai Đông Hà nhân rộng và phát triển thành 9 trường ở 9 huyện, thị tạo ra mô hình và điều kiện tốt cho việc phát triển hệ thống trường mầm non theo yêu cầu đổi mới của ngành học.

 Quy mô mạng lưới trường lớp ngành học Mầm non phát triển mạnh mẽ trong phạm vi cả tỉnh, xóa được xã trắng, phát triển được nhiều loại hình hợp lý: công lập, bán công, dân lập, tư thục và nhóm trẻ gia đình. Đang dạng hóa loại hình là cách làm phù hợp với sự phát triển kinh tế theo vùng miền tạo ra khả năng đón đầu cho các vùng kinh tế của tỉnh đang phát triển như khu kinh tế thương mại Lao Bảo và các cơ sở kinh tế tập trung khác.

 Thành tich của ngành học Mầm non là đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến. Trường Mầm non Hải Phú (Hải Lăng) được Chính phủ tặng Huân chương lao động hạng Ba với một thành tích lớn là đã tiến hành xã hội hóa, huy động nguồn lực tối đa xây dựng cơ sở trường học, giải quyết thỏa đáng chế độ cho cô giáo ngoài biên chế . Đây là đơn vị có số cháu vào nhà trẻ đạt trên 85% và 100% số cháu trong độ tuổi đến lớp mẫu giáo . Cô giáo Văn Thị Thịnh, Hiệu trưởng nhà trường đã được Chính phủ tặng Bằng khen. Trường Mầm non Hoa Sen (Đông Hà) do nhà giáo ưu tú Lê Thị Tưởng làm Hiệu trưởng đã có nhiều sáng kiến trong việc nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ theo hướng trường chuẩn quốc gia. Cô giáo Trần Thị Nở  trường Mầm non Bình Minh Khe Sanh (Hướng Hóa) đã dũng cảm bắt rắn độc cứu các cháu mẫu giáo,  là một điển hình xuất sắc được Chính phủ tặng Bằng khen.


Các tin khác: